Bài thuốc thanh nhiệt, giải độc rượu hiệu quả từ Sắn dây

Ngày đăng: 16/09/2019
2,238 Read
171 Share
Sắn dây còn có tên cát căn, cam cát…, là rễ củ cây sắn dây (Pueraria thomsoni Benth.), thuộc họ đậu (Fabaceae). Theo Đông y, cát căn vị ngọt, tính bình. Có tác dụng giải ngộ độc rượu, chữa phiền khát, đại tiện ra máu.

Sắn dây còn có tên cát căn, cam cát…, là rễ củ cây sắn dây (Pueraria thomsoni Benth.), thuộc họ đậu (Fabaceae). Theo Đông y, cát căn vị ngọt, tính bình. Có tác dụng giải ngộ độc rượu, chữa phiền khát, đại tiện ra máu.

Thành phần dinh dưỡng: cát căn có flavonoids (daizein, puerarin, formononetin…); triterpenoids (sophoradiol, soyasapogenol…) và các hợp chất carbohydrate. Có tác dụng chống co giật, hạ sốt, tăng cường nhu động dạ dày ruột, làm giãn mạch vành, chống loạn nhịp tim, hạ huyết áp, làm giảm nồng độ đường huyết, chống kết dính tiểu cầu. Nhóm hoạt chất isoflavone trong củ sắn có hoạt tính estrogen, là chất chống oxy hóa, làm chậm quá trình lão hóa cơ thể.

Từ thời xa xưa, toàn bộ các bộ phận của cây sắn dây đều đã được sử dụng làm thuốc trong Ðông y. Thông dụng nhất là củ sắn dây (cát căn), bột (cát phấn) và hoa (cát hoa). Cát căn thuộc loại những vị thuốc cổ nhất, từng được đề cập trong Thần Nông bản thảo kinh – bộ sách thuốc đầu tiên của Ðông y học.

Công dụng của sắn dây theo Y học cổ truyền

Cát căn có vị ngọt, cay, tính mát; vào 2 kinh Tỳ và Vị. Có tác dụng giải cơ thoái nhiệt, thấu phát ma chẩn, sinh tân chỉ khát, thăng dương chỉ tả. Dùng chữa sốt, làm ra mồ hôi, sởi không mọc được, phiền táo khát nước, nhức đầu, kiết lỵ… Ngày dùng 8 – 20g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với những vị thuốc khác. Cát phấn có vị ngọt, tính rất lạnh (đại hàn), vào kinh Vị. Có tác dụng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt trừ phiền. Dùng chữa phiền nhiệt, miệng khát, nhiệt sang, hầu tý. Cát hoa có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; vào kinh Vị. Có tác dụng giải độc rượu. Dùng chữa uống rượu quá nhiều bị ngộ độc, phiền khát, phát sốt, chán ăn, nôn mửa ra chất chua, thổ huyết, đại tiện ra máu.

Ảnh: Myphamolic

Vị thuốc mang tên cát căn là rễ được bóc vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi hay sấy khô của cây sắn dây; còn gọi là can cát, cam cát, phấn cát, cát ma nhự, cát tử căn, hoàng cát căn, cát điều căn.

Vị thuốc Cát phấn được chế biến bằng cách giã hoặc xay nhỏ củ sắn dây, gạn lấy tinh bột, lọc đi lọc lại nhiều lần, phơi khô. Còn vị thuốc Cát hoa bắt đầu được sử dụng muộn hơn, xuất hiện lần đầu trong Danh y biệt lục. Ngoài ra, Ðông y còn sử dụng cả lá (cát diệp), hạt (cát cốc) và dây sắn dây (cát man).

Một số ứng dụng của vị cát căn trong Ðông y cổ truyền và trong dân gian

– Chữa cảm mạo, phát sốt, cổ gáy cứng đơ, sợ gió, không mồ hôi: Dùng Cát căn thang gồm Cát căn 8g, Ma hoàng 5g, Quế chi 4g, Đại táo 5g, Thược dược 4g, Sinh khương 5g, Cam thảo 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày (theo cuốn Những cây thuốc và vị thuốc VN).

– Chữa vùng ngực bụng nóng cồn cào, phiền táo, khát nước: Dùng bột sắn dây 120g, gạo tẻ 15g. Gạo tẻ ngâm nước một đêm, hôm sau chắt bỏ nước, trộn đều với bột sắn dây, nấu cháo ăn trong ngày (theo Thánh huệ phương).

– Chữa cảm nắng, sốt nóng, nhức đầu, khát nước, có mồ hôi, nóng ruột, nôn ọe: Dùng bột sắn dây 12g hòa đường uống; hoặc dùng cát căn 20g, đậu ván (sao)12g; giã giập, sắc nước uống trong ngày (theo Trồng hái và sử dụng cây thuốc).

– Chữa cảm sốt nóng, nôn ọe, khát nước, nhức đầu: Dùng Cát căn, Sài hồ, Chi tử, mỗi thứ 15g, sắc nước uống trong ngày (theo Trồng hái và sử dụng cây thuốc).

– Chữa ngộ độc thức ăn, đại tiện ra máu do ăn phải những thức ăn nóng, độc: Dùng củ sắn dây tươi, ngó sen tươi, giã nát, vắt lấy 500ml nước cốt mỗi thứ, hòa đều, uống dần (theo Mai sư tập nghiệm phương).

– Chữa uống nhầm các thứ thuốc nóng hoặc quá mãnh liệt, dẫn đến viêm ruột, đau bụng đi ngoài tựa như kiết lỵ, cồn cào, buồn bực, nôn ọe: Dùng bột sắn dây hòa với đường uống. Hoặc dùng cát...

2,238 Read
171 Share
(223)
:
TIN BÀI NÓNG!!!
Đăng nhập
Quên mật khẩu
Đăng ký
Về đầu trang