Đông xuân dễ phát sinh bệnh, bảo vệ đường hô hấp bằng cách thanh lọc tạng phế

Ngày đăng: 12/01/2018
3,403 Read
188 Share
Diệp Quế có nói:

Diệp Quế có nói:Vị trí phế ở cao nhất, tà tất hại phế trước”, “ôn tà vào phần trên, đầu tiên là vào phế”. Cho nên ngoại cảm tà lục dâm thường trước là phạm vào phế, nhân đó mà xuất hiện chứng ngoại cảm.Đây cũng là nguyên nhân bên ngoài dẫn đến các bệnh về hô hấp như: cảm, ho, sổ mũi, viêm phế quản và các bệnh lý về phổi.

Theo Đông y: Phế chủ bì mao, bì mao là phần ngoài (phần da), nơi ngoại tà xâm nhập vào cơ thể. Nhờ sự tuyên phát của phế mà chất dinh dưỡng được đem đến cho bì mao. Vệ khí cũng tuyên phát ra bì mao để chống đỡ ngoại tà. Vì vậy khi có bệnh ở phần biểu thường thấy xuất hiện các triệu chứng ở vệ và phế phối hợp với nhau. Nếu phế khí hư yếu không tuyên phát ra bì mao làm da lông khô ráp, lưa thưa, dẫn tới cơ năng bảo vệ của bì mao bị giảm cho nên dễ bị cảm ngoại tà.

Trời lạnh, trẻ nhỏ dễ bị tổn thương phế mà sinh bệnh. (Ảnh: mitramagazine.ir)

Chức năng của phế

Phế ở trong ngực, chủ việc tuyên phát, túc giáng, ngoài chủ bì mao, khai khiếu ở mũi, trên liền với cuống họng, là nguồn trên của dòng nước. Đường kinh mạch bắt đầu ở trung tiêu, từ cuống phổi đi ngang ra dưới nách, theo cánh tay ra đầu chót ngón tay cái. Cùng biểu lý với đại trường.

Phế chủ khí, chủ hô hấp

Phế là nơi trao đổi khí, hít thanh khí, thải trọc khí nên phế chủ hô hấp.

Phế chủ khí vì phế có liên quan đến tông khí, tông khí được tạo thành do khí của đồ ăn từ tỳ vị đưa lên hợp với khí trời do phế đưa vào, tông khí được đưa vào tâm mạch để đẩy huyết đi toàn thân nuôi dưỡng cơ thể.

Phế khí bình thường thì hô hấp thông, hít thở bình thường. Phế khí hư thì thở ngắn, gấp, tiếng phát ra nhỏ yếu, khí úng thì làm cho xuyễn thở, ngực tức hoặc đau, khí nghịch thì sinh ho, nặng thì đứt lạc ho ra máu.

ngoại tà phạm phế cũng là nguyên nhân gây viêm phế quản. (Ảnh: MyHealthInCheck.com)

Phế chủ tuyên phát và túc giáng

Tuyên phát: Có nghĩa là thúc đẩy. Sự tuyên phát của phế (gọi tắt là tuyên phế) là sự thúc đẩy khí huyết, tân dịch phân bố ra toàn thân, bên trong đi vào các tạng phủ kinh lạc, ngoài đi ra bì mao cơ nhục. Nếu phế khí không tuyên sẽ gây ứ trệ và có triệu chứng tức ngực, ngạt mũi, khó thở.

Túc giáng: Là đưa phế khí đi xuống (thuận). Nếu phế khí nghịch lên trên uất tại phế sẽ có triệu chứng khó thở, ho, xuyễn tức.

Phế chủ thông điều thủy đạo

Nhờ tác dụng tuyên phát và túc giáng của phế mà nước trong cơ thể được bài tiết bằng đường mồ hôi, hơi thở, nhị tiện nhưng chủ yếu bằng đường nước tiểu. Phế khí đưa nước tiểu xuống thận, ở thận nước tiểu được khí hoá 1 phần đưa xuống bàng quang để bài tiết ra ngoài. Phế khí không tuyên thông thì tiểu tiện không lợi. Trên lâm sàng bệnh phù thũng do phong thủy (viêm cầu thận do lạnh) được chữa bằng phương pháp tuyên phế lợi niệu.

Phế không tuyên thông dẫn đến phù thủng. (Ảnh: ydvn)

Quan hệ của phế với các tổ chức khí quan

Phế khai khiếu ở mũi, hầu là cùng với phế. Cho nên phế bị bệnh có biểu hiện sau:

Phế khai khiếu ở mũi

Mũi là nơi thở của phế. Nếu phế khí bị trở ngại như cảm ngoại tà xâm nhập thì ngạt mũi, chảy nước mũi, cánh mũi phập phồng, nước mũi thối chảy ra.

Họng là giây phổi

Phế thông với họng, chủ tiếng nói. Phế hư thì mất tiếng, bị hàn thì họng ngứa tiếng khàn; bị nhiệt thì họng đau, họng sưng; đàm trở thì họng như kéo cưa, hen xuyển.

Phế nhiệt gây đau họng. (Ảnh: Fatos Desconhecidos)

Phương pháp giải độc đon giản cho tạng phế

Củ cải là thực phẩm bài độc cho phế

Trong con mắt của Đông y, đại trường và phế quan hệ mật thiết nhất, mức độ phế bài xuất độc tố...

3,403 Read
188 Share
(377)
:
TIN BÀI NÓNG!!!
Đăng nhập
Quên mật khẩu
Đăng ký
Về đầu trang